8/12/16

Một chuyến ra Trung


Chạy một mạch từ Sài-Gòn ra tới Hàm Tân trên chiếc xe gắn máy, tôi nghe chừng đã mỏi, mới biết ở cái tuổi hơn 60 không dễ dàng cho những chuyến đi xa. Dù vậy cũng phải đi, đi cho bỏ những ngày trói chân trong thành phố tù túng, bực bội bởi cái không gian như quá chật, quá hẹp cho cái thú dong ruỗi của mình.

Hàm Tân, danh gọi không quên. Ba năm tôi ở đó, trại Z30D. Cho dù bây giờ nó thay tên đổi họ, cho dù nó được xây dựng nguy nga hơn, kiên cố hơn. Quẹo phải tôi đi thẳng vào cổng trại giam, tất cả thay đổi hoàn toàn, ba mươi mấy năm chứ ít gì. Dù rằng, vào năm 2006 có lần tôi đu dây theo một thằng anh em xâm nhập vào trại này với tư cách là thành viên của một công ty mua bán gỗ, vào trại để thương lượng giá cả cho mấy hecta rừng tràm bông vàng sắp khai thác do trại này trồng. Lúc đó tôi ngang nhiên bước qua khỏi cái cổng luôn được chắn ngang lối vào to đùng như trước các dinh thự, khi bước qua cánh cổng này, tất cả điện thoại cầm tay đều vô dụng. Tôi không nén được  kinh ngạc khi nhìn mấy tòa nhà xây đường bệ theo phong cách, kiểu mẫu của Toà Đô Chính Sài Gòn, nó còn có vẻ lớn hơn và tân kỳ gấp bội.

27/6/16

Người lính VNCH Nguyễn Văn Răng



Trong một chiều mưa tầm tã chú Răng ghé thăm tôi. Hai chú cháu ngồi tâm sự bên tách cà phê đắng. Chú đã ôn lại quá khứ bi hùng trong đời lính và nhắc lại những kỷ niệm vui buồn trong chốn lao tù cũng như bao nỗi gian truân khốn khó sau thời gian chú vượt ngục.

Chú Nguyễn Văn Răng sinh năm 1952 là một cựu tù nhân chính trị vừa mãn án ngày 18/9/2015.

Một người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), dù trong mọi hoàn cảnh vẫn nêu cao tinh thần Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm. Một tù nhân chính trị, dù trong mọi tình huống vẫn giữ được ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất, luôn trung thành với lý tưởng của mình đã chọn - chống chế độ độc tài toàn trị.

Chú Răng xuất thân từ gia đình nông dân thật thà chất phác sinh sống tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đôi bàn tay của chú chai sạn, thô kệch với những vết sẹo đã vẽ lên một quãng đời gian nan nguy khó, trải qua bao thống khổ cùng cực và đau buồn. Đặt tách cà phê lên bàn, đôi mắt chú nhìn xa xăm, hồi tưởng lại...

26/6/16

Cựu TNCT Nguyễn Văn Răng qua đời




Danlambao - Ông Nguyễn Văn Răng, cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, cựu Tù nhân chính trị đã qua đời vào lúc 12 giờ 20 phút ngày 25/6/2016, sau nhiều ngày nhập viện để điều trị khối u ác tính đường ruột tại bệnh viện đa khoa Vĩnh Long.

Do không thể chữa chạy nên các y bác sĩ đã trả ông về gia đình và ông đã qua đời trên đường từ bệnh viện về nhà.

24/6/16

MẸ VÀ ĐỜI TÔI


Mẹ  sanh  con  xứ  Ngũ  Phụng  Tề Phi  *
Vùng đất Quảng Nam địa linh nhân kiệt
Trần Quý Cáp - Phan Chu Trinh bất diệt
Phong trào Duy Tân soi sáng lòng dân

Điềm báo trước tên Phi Ô -  Ba đặt   **
Chức Nữ, Ngưu Lang xa cách ngàn trùng
Cầu Ô Thước có  lẽ không có  thật
Nên chuyện tình con gãy gánh nửa chừng

Cha  mất  sớm  hai  mẹ  con  theo  Chú
Vũng Tàu - Cần Thơ - Phan Thiết - Vĩnh Long
Con khôn lớn nguồn sửa tươi của mẹ
Khổ  cực  thân  cò  lặn lội  bờ  sông

Con  vào  đời  chọn  màu áo nhà  binh
Chuẫn-úy sửa chỉ huy "quân Quyết Tử"  ***
Bình Giã - Ngãi Giao - Xuyên Mộc - Long Tân
Đột kích địch an dân vùng khói lửa

Mười  hai  năm con vào sinh  ra tử
Nay Hàm Tâm mai Hoài Đức, Tánh Linh
Mẹ ở tiền đồn nuôi bầy cháu nội
Đêm từng đêm mẹ cầu nguyện âm thầm

Võ Đắt , ba mươi ba ngày tử thủ
Xác anh em trộn lẫn xác kẻ thù
Mở đường máu băng rừng về quốc lộ
Chưa kịp đoàn viên bị bắt vào tù

Con biệt giam tại khám lớn Chí Hoà
Ba tháng gông cùm đòn thù nghiệt ngã
Lời mẹ dặn con một lòng một dạ
Ngẩng cao đầu trước nòng súng địch quân

Bảy năm khổ sai sức kiệt thân tàn  
Tù Suối Máu - Ngục kiên giam Xuân Phước
Đồng đội con những nấm mộ không tên
Manh chiếu rách kéo lê ra nghĩa địa

Con ra tù sống lang thang Bà Rịa
Gánh cá thuê , đội muối , ngủ đầu đường
Mẹ chết từ lâu mộ hoang cỏ dại
Ôm tấm bia con chỉ biết khóc thương

Bạn bè xưa vài thằng còn sống sót
Nương tựa nhau chia sớt miếng cơm thừa
Vợ ra đi không một lời từ biệt
Con ở đâu...Ba thèm một tiếng "THƯA"

Tạ tội mẹ thương đứa con bất hiếu
Đêm vượt biên không lạy mẹ con đi
Sống hay chết giờ đây con đã hiểu
Chỉ một con đường cặp bến Tự Do

Tổ Quốc ơi vạn lần xin tạ tội
Người lính can trường đã chết đêm qua
Quê hương con người dân đang hấp hối
Biết bao giờ đồng hát khúc hoan ca

Con sẽ về thắp hương quỳ lạy mẹ
Cất lều tranh bên mộ mẹ cuối đời
Khi đất nước có tự do  dân chủ
Cờ vàng bay phũ kín khắp muôn nơi

A20 Lê Phi Ô

*
- Năm danh sĩ tỉnh Quảng Nam Cùng đỗ đại khoa vào năm 1898 :
- Phạm Liệu - Phan Quang - Phan Tuấn - Ngô Chuân - Dương hiển Tiến .
- Phan chu Trinh - Trần quý Cáp sinh tại Quảng Nam
** Sinh tại làng Nam Ô , tỉnh Quảng Nam . Phi Ô còn có nghĩa là Quạ bay , lấy
tich Ngưu Lang Chức Nữ bắt nhịp cầu Ô Thước gặp nhau mỗi năm. (vừa sanh tại Làng Nam Ô lại sanh đúng đêm "Thất Tịch" 7 tháng 7 Âm Lịch, đêm Quạ bắt cầu Ô-Thước).
*** Quân "Quyết Tử": đội quân cảm tử tình nguyện.


13/4/16

Về thăm trại cũ



Tôi đến Tuy Hòa giữa trưa nắng của thượng tuần tháng tư năm 2016. Tới ngã ba Tuy Hòa tôi hướng về Chí Thạnh cách đó 22km, để vào trại giam A20 hay trại Xuân Phước hoặc “Thung Lũng Tử Thần” như cách gọi trong hồi ký của cố nhà báo Vũ Ánh người đã từng nhiều năm bị kiên giam ở đây. “Trại Kiên Giam” đó cũng là cách mà cựu phó tỉnh trưởng Quảng Nam Đà Nẵng, A20 Nguyễn Chí Thiệp gọi cho tập hồi ký hơn 400 trang của ông. Và ông cũng chính là người đã một thời nếm mật nằm gai, người đã nhiều lần bị cùm trong những dãy xà lim tối tăm, chết chóc của nhiều phân trại thuộc cái Thung Lũng Tử Thần này.


1/4/16

Một đời lính trận…


Ta từng có một thời làm lính trận
Súng đạn, ba-lô trĩu nặng đôi vai
Tuổi đôi mươi sá gì đời sương gió
Mộng sông hồ cho thỏa chí làm trai

Ghìm tay súng nơi tuyến đầu lửa đạn
Ngăn quân thù gieo tang tóc đau thương
Mong quê hương nhà nhà vang tiếng hát
Cho mẹ già, em gái bớt lệ vương.

Rồi từ đấy đi vào miền gió cát
Mảnh chinh y thấm máu bạn, máu thù
Có những lúc dừng chân nơi lũng thấp
Tiễn bạn mình vào chốn nghỉ thiên thu !

Đêm từng đêm dừng quân trên đất địch
ới chiến hào đợi giặc lúc trăng lên
Chợt một thoáng mơ về nơi phố thị
Nhớ người yêu ta thầm khẻ gọi tên !

Nhưng quê cũ vẫn một màu tang tóc
Súng đạn quân thù xé nát làng quê
Đất nước đau thương ngập tràn tiếng khóc
Lính trận ra đi, đi mãi không về.

Tháng tư đến trong nghẹn ngào uất hận
Ta vào tù biệt xứ tận biên cương   
Mình mất nhau khi tàn cơn binh lửa
Và cuối cùng đánh mất cả quê hương !

A20 Lê Phi Ô




21/3/16

Cao Lãnh và bạn ta







Bạn đón ta khi trời gần tắt nắng
sau chuyến qua phà thấm mặn mồ hôi
vất vả chi dù vạn dặm xa xôi
thấy được mặt nhau là quá đủ rồi

thuở chung chiếu đoạn trường - còn chi nói
kẻ chết nhiều hơn đứa sống lất lây
gặp nhau thì đủ thứ chuyện trời mây
nhắc tới y như mình vừa ở đấy

mới rửa mặt đã bày như tiểu yến
mồi đưa cay vàng hực chuột nướng lu
hễ gặp nhau là chén tạc chén thù
kệ - ngươi rót không lẽ ta thúc thủ

uống thì uống nhưng chỉ say vừa đủ
để còn nghe bạn khóc nước thương non
bởi tại ngươi sinh ra để sống còn
vác đao mài kiếm không cần lựa chọn

ngươi đón ta như tên khùng thất trận
nói nói, cười cười cho hết cuộc chơi
dẫu sao ta, ngươi cũng thua lâu rồi
không cơ hội làm bàn như lính mới

mai ta đi, đi khắp vùng lục tỉnh
để nhớ về tuổi trẻ lỡ mất đi
bởi sợ rồi đây ta chẳng còn gì
khi vắt kiệt nhiều năm làm chốt thí

đừng tiễn, chớ đưa - khỏi cần bịn rịn
cứ như là gặp lần cuối - vậy thôi
cám ơn ngươi - chuột nướng lu làm mồi
Cao Lãnh và ngươi cần gì phải  nói

A20 nguyễn thanh khiết
Về Cao Lãnh thăm  A20 Lâm Mỹ Thuận
tháng ba -2016



13/3/16

Chí Cả Chưa Cùn*


Thép làm gươm vì được tôi trong lửa
Người thành nhân nhờ khéo luyện trong tù
Ta gặp nhau đâu phải chuyện tình cờ
Từ mọi nẻo đấu tranh giờ hội ngộ

Trong đêm tối những vòng tay rộng mở
Gửi đến nhau niềm thông cảm vô bờ
Mắt long lanh sáng lên từng tia lửa
Rạng rỡ ngọn cờ chính nghĩa tự do

Sắc thép chừ trong tay giặc
Máu nóng chừ trong tim ta
Ngày đêm chừ đày đoạ
Chí cả chừ đơm hoa

Ta biết vui vì đời đang kết quả
Có đêm nào dằng dặt chẳng qua đi
Thân hao mòn nhưng sáng ngời chí cả
Bàn tay gầy cùng nắm chặt tương lai

Hẹn nhau đây mùa sau về mở hội
Ly rượu nồng nhắc nhở chuyện hôm nay
Có những tháng năm ngục tù tăm tối
Để có ngày cờ ta lại tung bay

A20 Vũ Mạnh Dũng

Trại Xuân Phước A20 1981

(ghi lại theo trí nhớ của  A20 Lâm Mỹ Thuận)
*quán Lá đề tựa



28/12/15

Vì Chúng Ta Là Người Việt Nam


                                                     A20 Tống Phước Hiến

     - Tưởng Niệm trận Hải Chiến Hoàng Sa
                 giữa Hải Quân VNCH và Hải quân Tàu cộng cướp nước VN
    - Nhân đọc bài viết của cán binh cộng sản Bắc Việt viết về nỗi lòng của họ đã tham gia trận cưỡng chiếm VNCH

                                                               



                                                        Tổ Quốc chỉ là một,
                   Đừng lấy địa lý… núi sông...
                   vạch làn ranh ngăn cản,
                   phân chia da thịt, máu xương.

20/8/15

Giờ lâm trận



Đã đến lúc người câm lên tiếng nói
đã tới hồi người điếc phải lắng nghe
kể cả người đui thậm chí người què
cùng đứng dậy đập tan bầy cộng sản

Khom lưng cúi là ngàn năm khổ nạn
cõng kẻ thù trên xương máu cha ông
từ Bắc vô Nam máu đã ngập đồng
cửa nát nhà tan - sống đời sâu bọ

Vũ khí ta là tự do chính nghĩa
sắc như gươm đao chặt đứt xích xiềng
đừng đợi chờ trước cơ đồ ngả nghiêng
đứng dậy, hoặc cam tâm làm nô lệ

Đã tới lúc vươn mình như Phù Đổng
đã tới giờ cắm cọc Bạch Đằng Giang
dân ta ơi!  mất rồi ải Nam Quan
sẽ mất hết dưới tay bầy bán nước

Dù hơi cuối, dù phải lê từng bước
để cháu con không thẹn mặt Việt Nam
trên đường cùng - dù sức tàn, lực cạn
phải một lần đi trả nợ nước non

Nguyễn Di Ngữ
tháng 08-2015

21/6/15

Xuân Lưu Đày !


Tân Trương / Vũ Bình Nam
(Quảng Nam/20 năm khổ sai /cấm cố).


Xuân Ất Hợi lưu đày ra đất Bắc
Ta nhớ ngày đánh giặc của Quang Trung
Nhưng hôm nay không binh dũng tướng hùng
Không vó ngựa vẫy vùng thanh kiếm thép

Ta về đây không rượu nồng đón tết
Không hoa đèn cờ xí rước quân vương
Hai tay còng siết chặt một tình thương
Ta ôm trọn nỗi đoạn trường vong quốc

Căng mắt giận vẫn nghe lòng lạnh buốt
Nén căm hờn cho máu hận về tim
Hỡi anh linh của nòi giổng Rồng Tiên
Có hiểu được nỗi niềm cho hậu thế

Kinh thành đó sao bao đời hoang phế
Lũ sói lang ô uế trước cung đình
Cánh đào không chúm chím nụ cười xinh
Hay ấp ủ mối tinh chung vạn kỷ

Ta về đây quốc hồn nung chính khí
Nhìn non sông hùng vĩ tự bao đời
Mỗi bước chân là mỗi nắm xương rơi
Mỗi tấc đất là mỗi trời thương nhớ

Tình dân tộc chảy qua từng hơi thở
Ta cúi đầu xin khất nợ tiền nhân
Ai đã từng vị quốc vong thân 
Trên chiến trận mấy lần xông lửa đạn

Rồi hôm nay trước quân thù cộng sản
Tổ quốc còn trao sứ mạng thiêng liêng
Nguyện làm chiến sĩ trung kiên
Ra đi bẻ gãy xích xiềng cộng nô
Văng Lang xây lại cơ đồ
Nhân quyền dân chủ thắm cờ tự do  .

Việt Nam 20/6/2015
A20 Tân Trương/Vũ Bình Nam 
(tặng Tango, Ngọc Vàng và các CH lưu đày ra bắc năm1994)


19/6/15

Án Cải Tạo!


A20 Đỗ Văn Phúc

Ðúng là ở Xuân Phước không thấy ngày về:

Ðến đây thì ở lại đây,
Ðến khi bén rễ xanh cây, chửa về.

Vài vị linh mục trong nhóm Vinh Sơn, ra toà nhận án 5 năm. Thời gian trôi qua, hết hạn 5 năm, chờ hoài không thấy kêu lên làm thủ tục trả tự do, các vị mới hỏi và được trả lời:

– Tội các anh lớn lắm, đáng ra phải ra toà nhận thêm án, nhưng cách mạng khoan hồng chuyển qua tập trung cải tạo, khi nào xét thấy tiến bộ sẽ cho về.

Không Nơi Ẩn Nấp


A20 Đỗ Văn Phúc


Ở các trại khác còn nghe chuyện tù trốn thoát chứ tại Xuân Phước thì con kiến cũng không ra lọt. Ðể phòng ngừa tù trốn trại, bọn cán bộ cấm ngặt gia đình tiếp tế các thực phẩm khô. Những đội tù gồm quân nhân chế độ cũ chỉ được lao động quanh quẩn gần trại; bao quanh là các đội hình sự. Khi xuất trại, dù mưa hay nắng, anh em phải đi chân đất. Mùa hè, cơn nắng miền trung nung cháy con đường đất, bước chân đi như dẫm lên than hồng. Mùa mưa, đường sá ngập bùn lầy lội, trong lúc bọn cán bộ ngồi trong căn nhà lô, ăn uống lu bù, thì anh em tù vẫn phải làm việc. 

18/6/15

Mưu Sinh Trong Trại Tù


A20 Đỗ Văn Phúc

Khó mà nói cho thật hết hay thật rõ ràng để cho mọi người thấy được những đày ải, khổ nhục mà những người tù nhân phải chịu đựng nhiều năm trong các trại tù cải tạo sau khi miền Nam bị Bắc Việt chiếm đoạt. Những người bị giam giữ này lại không phải là thành phần hình sự, can án cướp của giết người; mà là hàng trăm ngàn quân nhân, viên chức từng phục vụ trong chính quyền Cộng hoà Việt Nam đối kháng với Cộng Sản miền Bắc. Họ được Cộng Sản gọi bằng mỹ danh là “các trại viên học tập cải tạo”, nhưng thực ra là “các tù khổ sai vô hạn định” mà chủ trương cải tạo chỉ là một sự trả thù dã man của những người thắng thế đối với kẻ bại trận.

Tù Trong Tù


A20 Đỗ Văn Phúc

Trong căn phòng tối mịt mù này, tôi không còn ý thức rõ rệt về thời gian. Tôi chẳng nhớ đã bị đưa vào cùm nơi đây bao nhiêu ngày rồi. Dễ cũng đến hơn hai tháng chứ không ít đâu. Những người tù thay phiên nhau vào ra ở phòng hai bên đã nhiều bận mà tôi thì vẫn cứ trụ trì trên chiếc bệ xi măng lạnh cóng này; với hai cổ chân xích cứng vào thanh sắt 12 li bằng hai chiếc cùm xoắn oan nghiệt.

Mỗi ngày, tên cai tù cùng một tên trật tự vào đưa cơm một lần. Theo thông lệ là phần ăn trưa. Có lúc chúng đem vào khoảng 9 giờ sáng, khi nhà bếp vừa ra chảo bánh khoai mì đầu tiên. Có khi mãi đến giờ lao động buổi chiều mới nghe tiếng dép lẹp kẹp của chúng. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ chờ đợi, chỉ để nhận khi thì vài lát khoai mì luộc, khi thì một góc chiếc bánh cũng bằng bột khoai mì chỉ nhỏ bằng phần tư bao thuốc lá. Chẳng phải vì đói mà chúng tôi mong sớm đến bữa ăn đâu. Chẳng qua là muốn cho ngày tháng qua mau kẻo nằm mãi trong xà lim cũng buồn chán và kiệt sức quá đỗi.